Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

Mùa Xuân Của Mẹ


Mẹ đang ngồi cắm cúi nhổ mấy ngọn cỏ xanh vừa vươn lên trên ngôi mộ Ông tôi, một tiếng nổ lớn ngay chân Mẹ, cả tôi và thằng Hiền, cũng giật mình. Thằng Hiền đứng phắt dậy, quay nhìn phía sau. Thằng Cu Ni đang vỗ tay cười khoái chí. Trước ngôi mộ trước mặt, cây hương còn rung động. Thằng bé nghịch thật, dám đốt pháo, ném ngay xuống chân Mẹ. Hiền đưa đấm tay, hăm dọa:

 Cu Ni, mày hỗn nhá. Dám phá Mẹ há. Tao đấm cho ít cái bây giờ.

Thằng Ni đang cười hớn hở bỗng im bặt, mặt bí xị xuống, nước mắt bắt đầu tươm ướt đôi mi dài. Trông mà tội nghiệp. Mẹ đứng dậy, vẫy Cu Ni:

- Tới đây con, tới đây, giỏi, Mẹ thương.

Ni nghe Mẹ nói giọng ngọt ngào càng tủi thân, òa lên khóc nức nở. Mẹ vẫn vẫy gọi:

- Đừng khóc, xấu lắm. Con giai gì mà nhè thế, lại đây Mẹ, con.

Cu Ni vừa đến bên Mẹ vừa đưa tay chùi nước mắt. Đường đất mấp mô, ẩm nước suýt làm Ni té mấy lần. Mẹ chạy tới bên Ni, ẵm nó đến trước ngôi mộ Ông. Mẹ bảo:

- Xin lỗi ông đi con. Con đốt pháo làm ông giật mình đấy. Nhanh lên, xin lỗi không ông phạt bây giờ.

Ni vòng đôi tay mũm mĩm, cúi đầu thật thấp:

- Cháu xin lỗi ông ạ.

Trông Ni thương quá. Nước mắt còn đoanh tròng mà miệng đã mỉm cười. Chiếc áo len đỏ của nó nổi bật trên nền đất nâu ướt và đám cỏ xanh mùa xuân.

Mẹ dắt Ni lên thành mộ, ngồi kế bên. Không bảo nhau, tôi và thằng Hiền cùng chỗi dậy, giành nhau ngồi kế bên người. Tôi tuy lớn, nhưng con gái làm sao nhanh bằng thằng Hiền. Nó nhảy có ba bước, phóc qua thành mộ bên này, và ngồi chễm chệ bên Mẹ. Nó còn nheo mắt chọc tức. Tôi tức thật, vùng vằng:

- Con trai gì mà...

Nó cũng đưa mắt nhìn tôi:

- Con gái gì mà...

Tôi tức cười, không sao nín được. Thấy tôi loay hoay tìm chỗ ngồi được gần Mẹ, Mẹ bồng cu Ni bỏ lên chân, rồi vỗ vào thành mộ, chỗ cu Ni vừa ngồi, Mẹ gọi:

- Ngồi đây con.

Mẹ tôi thật dễ thương. Tôi chưa bao giờ nghe Mẹ gắt gỏng lần nào. Khi nào Mẹ giận kinh khủng, Mẹ vào phòng đóng cửa chặt suốt cả ngày. Đôi khi trong phòng vẳng ra tiếng lầm rầm khiến tôi sợ. Nhưng thực ra, Mẹ chỉ đọc kinh cho tâm hồn thanh thản trở lại. Đến bao giờ Mẹ cảm thấy có thể cười được với tất cả mọi người, Mẹ mới mở cửa phòng. Những lần như thế, không ai dám làm trái ý Mẹ nữa, nếu không nói là chiều chuộng và đón ý Mẹ để Mẹ được vừa lòng. Một điều rất hay là Mẹ không lấy thế để "làm nũng" với chúng tôi, Mẹ vẫn giữ bình thường như không có gì xảy ra, và nhờ thế, không khí dễ thở lại thân mật đầm ấm, và người nào gây cho Mẹ nổi giận như thế thường ít bị chạm tự ái, chỉ thấy thương Mẹ hơn bao giờ.

Thằng Hiền bẹo má cu Ni:

- Mày nghịch tao chưa đánh đấy nhớ.

Mẹ cốc đầu Hiền:

 Đừng chọc em. Nó khóc bây giờ.

Mẹ nhìn xa xôi:

 Mẹ hồi bé còn nghịch gấp mấy nữa kìa.

Tôi tròn mắt nhìn Mẹ:

- Mẹ mà nghịch ; Mẹ hiền một cây mà nghịch gì.

- Mẹ lớn mẹ mới hết chứ thuở bé, mẹ với cậu Hoài thôi khỏi chê.

Thằng Hiền tò mò. Cặp mắt dò hỏi trông hay lạ:

- Mẹ nghịch bằng tụi con không?

Mẹ hôn lên mái tóc cu Ni. Thằng bé đang mân mê mấy cây pháo còn lại, muốn đốt mà không dám. Mẹ nói, bâng khuâng:

- Mẹ nghịch hơn thằng chó này nữa kìa.

Mẹ bật cười nhỏ, cúi thả cu Ni xuống đất:

- Đi đâu thì đi đừng đốt pháo gần Mẹ, Mẹ giật mình.

Cu Ni chạy lúp xúp sang góc khác, lúi húi chọn một cây pháo căng cứng. Tiếng pháo nổ, vui thì cũng vui, nhưng nghe như tiếng đạn lẻ tẻ về đêm. Mẹ không nghĩ về tiếng đạn, mẹ đang mơ về thuở thơ ấu. Môi mẹ hé ra, nở nụ cười như thoáng nhớ một chuyện hay hay. Mẹ bảo:

- Hồi bé, Mẹ ngu lắm. Cậu Hoài thì con trai, nghịch đã đành, Mẹ con gái cũng không kém. Mẹ còn nhớ ngày hôm đó sắp đến Tết. À, mồng một chứ, Ông Bà đi thăm bà con vắng. Mình Mẹ với cậu Hoài ở nhà. Hai đứa đi đánh bạc chán lại đốt pháo. Bên cạnh nhà Mẹ có ông kia, ông ta nuôi một con chó bẹc giê to ghê lắm. Nó thường qua nhà Mẹ ăn và làm quen với Mẹ và cậu Hoài. Hôm mồng một, nó cũng sang. Mẹ với cậu Hoài đùa với nó một lúc, bỗng nảy ra một ý kiến nghịch kinh khủng. Mẹ với cậu Hoài lấy vải bố trùm đầu con chó, không cho nó thấy gì hết. Xong Mẹ vỗ đầu nó, trong khi chú Hoài tìm cái "loong" đặt cây pháo vào. Trời ơi, tiếng nổ nó to thế nào ấy. Các con biết không? - Mẹ ngừng lại để cười. Con chó đang nằm yên, bỗng giật thót mình chạy biến. Mà các con thấy, mắt không thấy đường, sợ tiếng nổ, nó chạy loăng quăng, sủa ầm ĩ. Lắc một hồi, cái bao tuột ra, nó phóng ra đường, chạy tuốt.

Thằng Hiền cười:

- Thế nó có cắn mẹ không?

- Đâu có, nó chạy, trốn chui ở đâu suốt mấy ngày trời không về. Mẹ với cậu Hoài sợ quá cũng không dám thú thật với Ông Bà.

- Thế ông hàng xóm có biết không?

- Biết đâu được. Ông tìm khắp xóm. Mà tội, phải cái đầu năm ông đâu dám chửi.

Thằng Hiền thích chí:

- Mẹ, mẹ sao con chó nó nghe tiếng nổ, nó lại sợ đến thế?

- Con gì nghe tiếng nổ bất thình lình như vậy mà không sợ? Mình nghe thằng cu Ni đốt pháo cũng còn giật mình huống gì con chó lúc ấy đang bị bịt mắt, đang được vỗ về.

Nhìn mắt thằng Hiền, tôi biết nó đang âm mưu gì. Tôi mách mẹ:

- Mẹ, thằng Hiền tính đốt pháo, chọc con Lucky nhà mình đó mẹ.

Thằng Hiền chối phắt:

- Đâu. Em nói vậy hồi nào.

Mẹ cười:

- Chúng mày làm sao đó thì làm, con Lucky mà trốn luôn thì chúng mày nhừ đòn với Ba đấy.

Mẹ nhìn khắp nghĩa địa, gọi lớn:

- Cu Ni, Ni đâu. Mẹ bảo này.

Thằng Ni, trời đất, đang ngồi bệt xuống đất ướt, nhìn chăm chú ngọn cỏ non.

Tôi chạy đến bên nó, cùng cúi nhìn. Một con nhện đang giăng tơ trên mấy đầu cỏ tranh. Những sợi tơ óng nước, xinh xắn. Thằng Ni chỉ lưới nhện cho tôi xem, giọng non nớt, đáng yêu:

- Ni muốn bịt mắt con nhện đốt pháo cho nó chạy!

Tôi buồn cười, hôn lên má nó, hôn lên cặp mắt nai tơ của nó:

 Bịt mắt rồi đó, đốt pháo đi.

Ni dãy dụa  trên tay tôi:

- Thả Ni xuống, Ni đốt pháo.

Một tràng tiếng nổ nghe gần làm tôi dừng phắt lại. Cu Ni lắng tai nghe:

- Nhà ai đốt pháo nghe to ghê chị há.

Tôi muốn bảo em không phải tiếng pháo đâu, tiếng súng đấy. Nhưng tôi chỉ ẵm nó, chạy nhanh về phía mẹ.

Mẹ tôi buồn rầu:

- Thôi về các con.

Trời mùa xuân dịu dàng, mưa bay, trời xám nhưng sạch. Tôi yêu nhất là những ngọn cỏ non, xanh mượt, nõn nà, và những chồi hoa e ấp, đáng yêu. Trời lạnh, mưa nên Violette nở đầy bồn, hương thoảng nhẹ. Vườn nhà tôi rực rỡ hoa tử vi, hoa hồng, hoa thược dược. Mẹ tôi chăm bón chúng tới hết tình trìu mến.

Tôi cũng yêu những sợi mưa bay, nhẹ như một loài bong bóng nhỏ, vương trên tóc, trên áo len, trên tơ nhện giăng đầy sân cỏ. Và tôi yêu nhất là những tia nắng đầu xuân, ngại ngần bước lên đám nhà chen chúc nhau sau lũy tre xanh. Những tia nắng kia đã lâu tôi không gặp. Ở đây chỉ có đường nhựa, nhà gạch, lan can bằng sắt. Nắng hình như cũng buồn hơn, chán hơn, và mất đi nét e ấp, nhỏ nhẹ như hồi chúng tôi còn ở quê làng. Tuy nhiên vào một ngày đầu xuân như hôm nay, đứng ở một nơi xa thành phố, giữa những hàng bia mộ nằm xen kẽ nhau, trên đám cỏ xanh và bao bọc bởi hàng rào dương liễu, tôi chợt nhiên thấy nắng hiện nguyên hình là một cô bé xinh tươi, vừa mới lớn. Nắng ngọt ngào, e thẹn,. Nắng ấm nhẹ và như có hương ở trong.

Tôi nói với Mẹ:

- Khoan về đã Mẹ. Ngồi với ông một chốc đã. Lâu lắm mình mới lên đây mà. Ngồi đây, mẹ kể chuyện tụi con nghe. Chuyện mẹ hồi bé ấy mà.

Mẹ hình như cũng có ít nhiều đổi thay trong lòng. Dường như tia nắng nhỏ, vương trên tóc Cu Ni làm mẹ nhớ thuở bé, và dường như mùi cỏ, mùi hương, mùi không khí sạch trong ở đây có cái gì quyến rũ Mẹ lại ngồi xuống thành mộ.

- Kể chuyện gì? Chuyện Mẹ hả. Thế thì nhiều lắm, nhưng Mẹ chả nhớ. À, mẹ nhớ cái nhà của Ông Bà hồi xưa ở làng T. có tiếng nhiều ma lắm. Bà cúng hoài, rằm mồng một nào cũng mua chuối, hoa. Đêm cuối năm ấy, Bà bày xôi, chè, chuối ra trước sân, trải chiếu, thắp đèn, hương khấn vái. Vừa cúi xuống lạy, ngẩng lên đã mất đi nải chuối. Bà tức lắm, chỉ chửi đổng và xuýt xoa xin lỗi ông Địa.

- Thế ai lấy hả Mẹ? Phải Mẹ và cậu Hoài không?

- Mẹ đâu có lấy. Bọn trẻ hàng xóm đấy chứ. Tụi nó lấy xong, gọi Mẹ với cậu Hoài ra, chia cho mỗi đứa hai quả.

- Sao tự nhiên tụi nó lại chia cho Mẹ và cậu Hoài hả Mẹ?

- Tại Mẹ giữ chó cho tụi nó vào mà.

Thằng Hiền và tôi bật lên cười. Cu Ni cụng nhe hàm răng "sún vì chua" của nó ra, cười toe toét. Thằng Hiền dí tay lên trán Cu Ni:

- Ni biết gì mà cũng cười. Xạo lắm.

- Ni biết chứ. Mẹ lấy chuối của Bà nè.

- Ẩu mày.

Cả mấy Mẹ con cùng vui. Pháo vẫn nổ lẻ tẻ đâu đó. Mẹ tôi chợt buồn:

- Phải chi có Ba các con thì hay biết mấy.

- Ba bảo Ba về sao Ba không về nhỉ.

Thằng Hiền láu táu:

- Chắc Ba bận đi hành quân.

Cu Ni thêm:

- Ba về, Ni khoe áo mới, Ni khoe mứt mẹ làm.

Tôi nhìn xuống chiếc áo dài xanh. Mẹ tôi may đó. Xinh thật xinh. Bộ đồ thằng Hiền thì mẹ mua, áo len Cu Ni Mẹ cũng đan. Mẹ tôi biết hết. Mẹ tôi là "Người biết quá nhiều". Biết nhiều nên Mẹ mới khổ, phải một tay làm mọi chuyện. Vì nếu để người khác làm, Mẹ không vừa ý.

Tôi thường nói với Mẹ:

- Con không tập làm gì hết đâu. Biết nhiều như mẹ thêm mệt.

Mẹ tôi chỉ cười, bảo tôi.

- Để Mẹ xem. Lớn lên thế nào rồi tự nhiên cũng phải biết con ơi. Đời đàn bà mà.

- Đàn bà thì phải làm việc hả Mẹ? Đâu được.

- Đó là thiên chức. Đó là một việc tự nhiên hết sức. Con không muốn cũng không được. Điều cần thiết là con hãy xem công việc con làm như một phần nhỏ trong hạnh phúc gia đình, và hãy vui thích mà làm, đừng xem đó là một việc bắt buộc phải làm.

- Chuyện đó sau hẵng hay. Mẹ à, vậy có ai dạy Mẹ làm không?

- Có chứ. Mẹ học Bà này, học các anh chị, bạn bè. Mỗi người một ít. Đời dạy cho mình chứ có phải tự nhiên mà biết đâu.

Mẹ tôi hay thật. Tôi cũng muốn được như Mẹ, nhưng tôi làm biếng lắm kia.

Tôi nhìn Mẹ. Mẹ tôi mặc chiếc áo lụa cũ từ năm ngoái. Tôi thương Mẹ quá.

- Sao năm nay Mẹ không mặc áo mới?

- Các con còn bé, các con mới cần ăn Tết, các con mới cần hưởng hết cả những ngày vui, chứ Mẹ, Mẹ lớn rồi.

- Bộ lớn không ăn Tết hả Mẹ?

- Không phải thế đâu nhưng Ba các con còn đi hành quân... Mà các con không hiểu đâu.

Tôi nháy mắt với Mẹ:

- Con hiểu chứ sao lại không? Mẹ muốn chia xẻ hết với Ba, vui cũng như buồn. Phải thế không Mẹ?

Mẹ tôi cười. Tôi thấy chiếc áo Mẹ tôi đang mặc đẹp hơn hết, mới hơn hết những chiếc áo mới trên thế gian này.

Chúng tôi cùng ngồi yên nhớ Ba vô vàn. Ba tôi đi hoài, mấy tháng mới về được chừng vài hôm, lại đi nữa. Những lần Ba tôi về phép, nhà tôi vui như hội. Mẹ tôi đi chợ, làm thức ăn thực ngon. Buổi tối, chúng tôi được Ba dẫn đi xem chiếu bóng. Tôi, thằng Hiền đều mong Ba tôi về thường hơn để có dịp ăn chơi thả cửa. Sau những ngày rộn ràng, căn nhà trở lại yên tĩnh và có khi như đưa đám sau khi Ba tôi vác Balô lên vai, đưa tay vẫy vẫy chúng tôi rồi leo lên xe "Jeep" trở lại đơn vị. Gần đến ngày Ba tôi về phép, bữa ăn nào chúng tôi cũng bàn tán xem nên mua gì cho Ba tôi ăn, nên đi xem ciné ở rạp nào, nên kể cho Ba tôi nghe những gì. Cu Ni nói nó sẽ kể cho Ba nghe chuyện cô giáo lấy thước đánh vào tay nó lúc nó đang hí hoáy vẽ bậy trên vở học. Thằng Hiền đặt một chương trình ăn chơi rất hấp dẫn: đi xem phim "Peter Pan", ăn mì gà... Mẹ bảo để Mẹ làm nem nướng, nấu chè hạt sen. Còn tôi, tôi hưởng hết mọi thứ, bắt Ba kể chuyện hành quân nghe chơi.

Thằng Hiền nói với Mẹ:

- Có lẽ mai mốt gì Ba về rồi đấy. Mẹ tính nấu cho Ba món gì?

Mẹ cốc đầu nó, cười:

- Mày chỉ biết ăn thôi. Tết thì ăn bánh Tét chứ ăn gì nữa. Cho Ba chúng mày trúng thực luôn. Sáng bánh Tét lạp xưởng, chiều bánh chưng trứng vịt. Vừa lòng chưa, cậu Trời con?

Mẹ thắp hương lên mộ ông lần nữa, khấn vái nho nhỏ, rồi bảo chúng tôi lại từ biệt.

Chúng tôi đi bộ ra khỏi nghĩa địa. Tôi nói với Mẹ:

- Nắng ở đây giống nắng làng mình ghê.

Mẹ tôi nhìn lại, dáng bâng khuâng, nhẹ gật đầu.

Suốt ngày hôm ấy, Mẹ có dáng nghĩ ngợi. Tôi biết Mẹ đang nhớ, và có thể đang tiếc những ngày tháng qua.

Tối, tôi bỏ giường sang nằm chung với Mẹ. Lâu lắm mẹ con tôi mới nằm chung với nhau. Còn nhớ độ nào không có Mẹ ở bên, không ôm được Mẹ là tôi không ngủ được. Lớn dần, tôi đâm ra muốn sống riêng tư, xa Mẹ, xa gia đình, dù tình thương  càng ngày càng tăng. Mẹ mỉm cười:

- Lạnh hả?

- Đâu có Mẹ, lạnh cũng có lạnh, nhưng muốn ôm Mẹ ngủ à.

Tôi chui vào mền, ôm lưng Mẹ như thuở bé, thấy mình nhỏ con và bé bỏng lạ. Thằng Cu Ni đẩy tôi ra:

- Chỗ của Ni mà, chị không được ôm Mẹ của Ni.

- Mẹ chị chứ Mẹ Ni hả. Ni đi ngủ với anh Hiền đi.

- Không, Ni ngủ với Mẹ cơ.

- Con trai gì lớn mà đòi ngủ Mẹ hở. Xấu!

- Chị cũng lớn mà. Chị có giường bên kia cà. Chỗ này của Ni mà.

Nhìn chúng tôi dằng co, Mẹ ôm cu Ni, bỏ nó sang phía bên kia. Thế là Mẹ nằm giữa, Cu Ni một bên, tôi một bên. Tôi thỉnh thoảng hất tay Ni, không cho ôm mẹ làm thằng bé hét tướng:

- Mẹ xem chị Thảo không cho con ôm Mẹ kìa. Mẹ mắng chị ấy đi Mẹ.

- Im đi nào. Tụi bây làm Mẹ mệt quá.

Mẹ mệt, nhưng Mẹ sung sướng. Tay Mẹ vuốt tóc tôi, tay kia vỗ vỗ lưng Cu Ni. Mẹ cười dễ thương ác.

Thằng Hiền ở nhà ngoài, nghe chúng tôi đùa ở trong, đang học bài, cũng xếp vở, chạy ùa vào phòng, nhảy lên giường, kéo chăn kín cổ. Cu Ni la oai oái:

- Lạnh em. Mẹ xem anh Hiền kéo mền của con kìa.

- Mền của Mẹ chứ của Ni hả.

Tôi cũng nhổm dậy:

- Con quỷ. Mày kéo mền vừa vừa chứ, để người ta đắp với. Lạnh chết đi ấy.

Hiền thấy bị tấn công quá, bèn xuống nước, trả bớt mền cho Cu Ni và tôi. Bốn mẹ con cùng nằm trong một giường. Tôi bảo Hiền:

- Ra tắt đèn ngoài đi cậu. Làm biếng hả.

Cu Hiền nhìn chỗ nằm ấm, nhìn ngoài nhà, le lưỡi:

- Thôi, lạnh lắm.

Mẹ cười:

- Ra tắt đèn đi Hiền. Con bật lên thì tắt đi chứ.

Hiền phóng mấy bước, tắt vội ngọn đèn, rồi chạy ùa vào giường như gió, miệng xuýt xoa như ăn ớt cay.

Mẹ tắt đèn lớn, bật ngọn đèn nhỏ. Căn phòng chìm trong ánh sáng mờ, ấm cúng hẳn lên. Mẹ không nói gì, nhìn lên đỉnh mùng. Cu Ni ôm cứng lấy Mẹ, nhất định hất tay tôi không cho đụng vào người Mẹ. Tôi lắng nghe tiếng mưa nhỏ trên nền nhà như bước chân ai đang dò dẫm ngoài vườn khuya. Tôi hỏi Mẹ:

- Ở làng ngoại, mùa này còn lạnh không Mẹ?

- Lạnh ghê lắm con. Nhưng không mưa. Nắng nhẹ thôi. Mấy cô mấy cậu tha hồ diện.

- Thế Mẹ có diện không?

- Mẹ ấy à. Cũng vậy thôi.

- Bà ngoại không mua áo mới cho Mẹ như Mẹ mua cho chúng con hả Mẹ?

- Có chứ. Tết, ngoại cũng mua vải đem ra tiệm may. Ngoại cho tiền Mẹ và cậu Hoài đi mua guốc mới. Đầu năm, Ngoại cũng cho tiền mừng tuổi. Thế nhưng các con cũng biết, làm sao thích bằng được Mẹ mình may lấy cho mình. Bà ngoại dữ lắm nghe. Còn ông Ngoại thì nghiêm. Mẹ với cậu Hoài mỗi lần nghe ông bà gọi là sợ điếng hồn.

- Thế sao Mẹ nghịch dữ vậy?

- Mẹ bắt chước tụi trẻ hàng xóm. Mà Mẹ với cậu Hoài chỉ nghịch khi không có ông bà Ngoại kia. Hễ có mặt ông bà thì ru rú, hiền như chó con. Với lại, suốt ngày Mẹ với cậu Hoài ở vườn sau, có bao giờ dám lên nhà trên đâu.

- Thế ông bà ngoại không thương Mẹ sao?

- Thương chứ. Nhưng ngày xưa nó nghiêm thế. Cha mẹ ít khi âu yếm với con. Tưởng cho con ăn uống đầy đủ là xong. Tới kỳ mẹ lớn, bà ngoại giữ Mẹ kỹ lắm. Đi đâu phải xin phép, Bà cho mới được đi. Ra ngoài mà ăn mặc diêm dúa quá, Bà bắt thay áo quần đã. Còn mà lôi thôi quá, Bà cũng mắng. Bà bắt Mẹ nấu ăn, dạy mẹ quay tơ, dệt vải. Hồi xưa Mẹ tự dệt vải lấy, may quần áo lấy.

- Thế hồi Mẹ gặp Ba, Bà có biết không?

- Gặp đâu mà gặp. Ngày gần cưới mới nhìn mặt Ba đấy chứ. Bà đặt đâu ngồi đấy mà.

- Mẹ, thế cậu Hoài đâu rồi?

- Cậu ấy mất rồi, mất hồi chạy loạn.

Mắt Mẹ rưng rưng nhớ em. Chúng tôi yên lặng.

Mẹ bảo:

- Dù tuổi thơ của Mẹ không sung sướng bằng các con hiện nay, Mẹ thiếu thốn nhiều, khổ cũng nhiều, và nhất là bị kiềm chế nhiều, nhưng tuổi thơ vẫn là tuổi thơ, có nhiều hình ảnh vô tư, xinh đẹp, dễ thương mà mình nhớ hoài.

Ngừng một chốc, Mẹ tiếp:

- Mẹ đã sống nên Mẹ hiểu các con cần những gì. Mẹ có bao nhiêu, Mẹ cho các con bấy nhiêu. Mai sau lớn lên, các con sung sướng Mẹ mừng, mà các con có khổ, các con cũng tự an ủi là mình đã có một thời hạnh phúc. Các con hiểu không?

 Hiểu ạ.

- Các con thêm một tuổi rồi, gần lớn hết rồi. Nhưng không hiểu sao Mẹ vẫn thấy các con bé bỏng lạ.

Tôi mỉm cười, nói cho có văn hoa một tí:

- Vì chúng con là mùa Xuân của Mẹ. Mùa xuân không bao giờ tàn. Mùa xuân yêu mẹ hoài hoài.

Mẹ vỗ lưng tôi:

- Thôi, bỏ đi cô.


Tỉ Tỉ     


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 88, ra ngày 1-4-1968)

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Hai Mươi Mấy Năm...














Rất xót xa nắng xuân ôm choàng mảnh hình hài Việt Nam lở loét,
Rồi ngậm ngùi xoa dịu từng vết thương nhói buốt hai mươi mấy năm.
Rất trìu mến nắng xuân ấp ủ thể xác người Da vàng tê cóng,
Rồi âu yếm hong ấm những tâm hồn băng giá hai mươi mấy năm.

*

Với niềm đau quặn thắt nắng xuân gục đầu trên dòng sầu Bến Hải,
Nghe lời kể lể rên rỉ vọng lên từ con nước lạnh căm căm
Ôi! bi thảm quá! tâm sự thê thiết của dòng sông chia đất nước,
Nghẹn ngào giọt nắng rơi vào con nước đẫn lê hai mươi mấy năm.

*

Vất vưởng trên đỉnh Trường Sơn nắng xuân ưu tư nhìn xuống quê hương.
Còn gì đâu? Đó: từng hố bom... từng hố bom... và từng hố bom.
Là những lỗ huyệt bên cạnh nhiều ngôi mồ nấm đất vãi tóe tung
Nắng xuân chợt nức nở thương đất Việt tơi bời hai mươi mấy năm.

*

Bước rón rén nắng xuân tới bên bà mẹ già lưng còng tóc bạc,
Bỗng khựng lại trước đôi mắt hoắm sâu tìm tòi nơi cõi xa xăm.
Mơ hồ bóng dáng người con trai loáng thoáng cuối trời tít tắp,
Mòn mỏi bà mẹ già ngong ngóng chờ con đã hai mươi mấy năm.

*

Man mác buồn nắng xuân thẫn thờ bên thiếu phụ dáng gầy tiều tụy,
Đứa bé trên tay mếu máo gọi "ba... ba..." giọng lạc loài nhớ thương.
Và nước mắt người chinh phụ bỗng tuôn trào cho nắng xuân héo hắt.
Hai mươi mấy năm rồi! ôi! nước mắt đổ thành sông trên quê hương.

*

Rồi nắng xuân xót xa ôm choàng mảnh hình hài Việt Nam oằn oại.
Và ngậm ngùi xoa dịu từng vết thương rớm máu hai mươi mấy năm.
Rồi nắng xuân trìu mến nằm cạnh thể xác người Da vàng uể oải,
Và âu yếm vuốt ve những tâm hồn mệt nhoài hai mươi mấy năm.

                                                                                                 PHÚ LỘC

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 155, ra ngày 15-6-1971)

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

Miên Trường Vĩnh Biệt











Bài cho Đ.T.L.

Đã quá xa xôi để lần trở lại
Tiễn đưa người về ngủ cõi vô biên
Suốt một đời tôi sầu ơi mòn mỏi
Tiễn bao nhiêu những cách biệt ưu phiền

Thôi em nhé giấc bình yên em giữ
Những quen xưa tôi gởi lại tháng ngày
Như bóng tối như từng cơn gió thoảng
Có trở về rồi có trở qua đây

Tôi cũng đã nghe xa niềm đau cũ
Những phân ưu cứ phải gởi đi hoài
Hồn tượng đá đâu còn nghe sầu phủ
Dù tiếc thương nào có biết nguôi ngoai

Hương khói cho em những dòng nước mắt
Tuổi trẻ chừ tội nghiệp phải không em
Vai súng đạn vai tủi hờn chất ngất
Và buồn rồi thôi đã thói quen

Đốt nến soi đời đuổi xua bóng tối
Mây nặng nề chùng ướt lạnh bờ môi
Trong tưởng niệm đã hàm đầy chua xót
Mà lệ tràn nào buồn có trôi xuôi

Những hoa bướm tuổi thơ em hằng giữ
Trong lời thơ và ý hướng vọng nhìn
Trong nỗi chết rồi em tìm đầy đủ
Rồi Miên Trường em còn mãi ngày xanh.

                                                       TRẦM VI

(Trích từ bán nguyện san Tuổi Hoa số 134, ra ngày 1-8-1970)

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

Lời Trong Sương














tặng : Trần Miên Trường

Người đã về hay chưa nhớ mong
Dấu chim buồn tuổi tóc mây hồng
Quê hương sao ngủ đời binh lửa
Đường mấy dặm dài ngựa ruổi dong

Còn đó tay chờ năm ngón thương
Vẫy khăn từ độ mới lên đường
Buổi về ai biết mai sau nữa
Còn thấy nhau từ đáy mắt trong?

Vườn cũ lên xanh cỏ nội đồng
Cho mưa trời gội mái hiên đông
Cho phai áo gió sờn vai bạc
Mẹ khóc chờ mong lệ cạn dòng

Có phải mùa thu nên lá bay
Mang mang hoa nắng ngủ chân ngày
Miền xa người có gom thương nhớ
Cúi xuống vài giây vọng tưởng này

Mòn mỏi trông mau cuộc chiến tàn
Bến xưa đò đợi mấy mùa đông
Quê hương sao ngủ đời binh lửa
Người đã về hay chưa nhớ mong?

                           NGỌC THÙY GIANG


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 116, ra ngày 15-10-1969)

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Ngày Sẽ Tới


 CHUYẾN XE NÀO BÌNH YÊN 

Khi chuyến xe vừa đầy nhóc người là lúc thành phố đã lùi lại sau lưng. Em tạm xa thành phố xa hoa náo nhiệt ấy, nơi mà các sinh hoạt rộn ràng đã cố tình làm cho con người hầu quên hay không muốn biết đến những tang tóc đang xảy ra ở một nơi nào đó không xa. Người tài xế chép miệng phân trần: “Khổ quá bà con ơi! Tui cứ đón khách lắt nhắt thế này, một hồi quá số hành khách đã định. Có khi xui thì bị phạt, bị phạt thì lỗ vốn. Bà con nghĩ coi, chở một người tám chục đồng, bị phạt một người hai trăm. Vậy mà tui cũng hổng tởn, cứ thấy người ta đón giữa đường mà bỏ chạy thì thiệt tội, nên cứ chở bừa. Có vậy mà nghèo. Bà Tám nè, hổm bữa đánh ở trển đó, tui thương quá chở đầy nhóc một xe chạy thục mạng tưởng chết. Vậy mà cũng về tới nơi bình yên. Thấy người ta lạc chồng lạc con tui cầm lòng hổng đặng, chẳng muốn cầm tiền của họ nữa. Vậy mà hổng hiểu sao có nhiều người lái xe bóc lột đồng bào dữ quá! Thiệt, thời buổi loạn lạc sanh ra nhiều loại người bất nhân.” 

Bà Tám, quen sao đó với bác tài xế, là một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi ngoài, đưa tay sửa lại búi tóc, rồi lấy ổ bánh mì nguội ra nhai. Hầu như con đường này đã quá quen thuộc với bà, nên bà có vẻ chăm chú vào câu chuyện của bác tài xế hơn là cảnh vật bên ngoài. Cái miệng hồng màu trầu nhai bánh mì thật ngon lành, vừa chóp chép vừa nói chuyện. “Ừa, anh Tư nói đúng đó, đời này nhiều kẻ chẳng biết thương nổi khổ của người ta gì hết trọi, ăn được là ăn. Mình nghèo, thương được ai lúc này thì thương kẻo tội. Tui tiếc là tui hổng có tiền chứ nếu giàu có ra, tui mua đồ đem đi cứu trợ hết. Hôm nay tui đem mấy trái mãng cầu lên cho con mẹ Út, hổng biết nó ở trại tạm cư có yên không. Bữa trước lên thăm nó, nó khóc nói chạy không đem được thứ gì hết. Nhưng mà nó hổng lạc đứa con nào hết là may. Một lũ bảy đứa, anh Tư thấy ớn hôn? Chà, vái Ông Địa cho tui lên đó bình an, về tui cúng quày chuối.” 

“Cho tui lên đó bình an”, tự nhiên em giật mình, và cũng muốn cầu khấn một quyền lực nào phù hộ. Xe chạy qua một khu chợ đông đúc, em bàng hoàng nhìn những người nối đuôi nhau đi mua, đi bán. Họ nhìn những chiếc xe bằng đôi mắt tìm kiếm, giống như mong thấy một người nào quen. Xe chạy chậm lại vì phải tránh người. Bất chợt em tưởng tượng nếu có một cái gì bất trắc xảy ra ngay tại đây, chắc hẳn khung cảnh sẽ hỗn loạn ghê gớm. Người đi chợ sẽ chạy tứ tán và những chiếc xe chạy ngược chạy xuôi chắc phải dừng lại, hành khách nhảy tung ra ngoài để trốn chạy. Nhưng cảnh vẫn thản nhiên trong khi trí tưởng tượng của em đi xa. Cảnh làm cho em nghi ngờ sự hiện diện của chiến tranh mặc dầu không thể nghi ngờ được. Chiến tranh phải chăng là một cái gì khi ẩn khi hiện mà nếu không trông thấy những cuộn kẽm gai giăng hai bên đường và chòi gác cao trơ vơ hẳn không ai tin được rằng trước hay sau đó một vài giờ đã hoặc sẽ xảy ra một cuộc giao tranh. 

Khi rời khu phố chợ, chiếc xe chạy giữa hai bên đường trồng chuối. Kìa có thấp thoáng bóng ai trong vườn, dưới những đám lá xanh non. Cảnh yên ổn vô cùng. Những chuyến xe chạy ngược chở đầy hành khách vụt qua. Bà Tám vẫn còn nhai bánh mì, ngoái cổ nhìn theo, nói: “Ở trển chạy về kìa, anh Tư! Chắc yên à, không đến nỗi nào. Chạy lẹ đi anh Tư! Tui tới thăm nó rồi về nhà sớm.” 

Xe qua một cây cầu. Tiếng ván lộp cộp dưới bánh xe. Người lính đứng gác trên cầu nhìn theo, đôi mắt buồn buồn. Hình như đôi mắt này đã bao lần tự hỏi những chuyến xe đi ngang cầu sẽ đi đến đâu, có được bình yên không? Có được bình yên không? 


LŨ TRẺ THƠ TRONG NẮNG 

Nắng không trong lành như người ta tưởng tượng là “nắng thủy tinh”, không ấm áp như nắng trong bài hát “Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên…” Nắng ở đây là thứ nắng gay gắt làm nhức đầu bỏng da mà chưa có một bài hát nhi đồng nào mô tả. Nhưng lũ trẻ thơ đang phơi mình trần tắm gội thứ nắng ấy. “Đi theo xe ba bánh đi tụi bây, đẩy giùm mấy ảnh để đem đồ tới phát cho người ta.” “Người ta” đây lại là gia đình của các em. 

A, hôm nay lại có dép nữa! Tí nữa mình sẽ được phát dép. Í, nhưng mà chân tao nhỏ quá đi, làm sao mang được dép to thế kia? Chắc anh tao mang vừa. Anh tao bị kẹt lại đó rồi mày ơi! Giá có ảnh chạy về đây thì ảnh cũng mang vừa vậy!… Tao ngó hi hí vô cái thùng kia, thấy có xì dầu nữa mày ơi! Hôm nay được ăn cơm với xì dầu! Rô-be, mày không được uống xì dầu nghe! Mày chắc uống xì dầu hoài nên đen sì. 

Rô-be chạy thoăn thoắt dưới nắng, lưng đen bóng lên. Chạy chán Rô-be leo phóc lên ngồi trên yên xe ba bánh. A, có việc này mà không nghĩ đến: sáng nay Rô-be thấy má Rô-be khóc khi đọc tờ giấy gì màu hồng của mấy anh chị đi phát. Nghe má nói đó là giấy từ giã chi đó. À, phải chăng mấy anh chị từ giã để đi về nhà? Rô-be hiểu nghĩa từ giã khi bữa hôm theo má theo anh rời bỏ nhà cửa chạy tránh bom tránh đạn, rời bỏ những tàn cây bụi cỏ ở đó Rô-be cùng lũ bạn chơi đùa hàng ngày. Rô-be nhớ mãi những chuyến xe chạy vội khỏi vùng khói lửa, và nhớ mãi đoàn người chạy loạn dắt díu nhau lếch thếch chạy trong tiếng la khóc và đạn réo điếc tai. Khi đến được nơi đây là đỡ được phần nào lo lắng. Nhưng bù vào đó là sự chật vật về nơi ăn chốn ngủ cùng với nỗi nhớ nhà thấm thía. Tối nào má Rô-be cũng khóc. Rô-be còn bé nhưng Rô-be cũng thấy nhớ nhà. Mấy ngày nay có các anh này đến phát gạo phát thuốc Rô-be cảm thấy vui vui, cứ dang nắng chạy theo giúp hoài. Bỗng nghe má nói các anh từ giã để về Sàigòn, Rô-be buồn ghê! Phải chi mấy ảnh ở đây với Rô-be luôn nhỉ! Rô-be vẫn reo, vẫn hát, nhưng bước chân chạy theo các anh hình như cuống quít lạ kỳ. 

Tin! Tin! Dang ra tụi bây, xe chở gạo đến kìa! Lũ trẻ leo lên mui xe, đeo trên cửa xe, hò reo thật thân ái. Một em đứng dưới đất buồn nhìn bàn tay cụt mất hai ngón, băng trắng toát. Em nghĩ đến ngày mở lớp vải băng này ra, chắc là bỡ ngỡ lắm. Hai dấu thẹo nhăn nhíu hẳn sẽ làm em khóc. Với ba ngón còn lại, em sẽ làm được gì? Em chắc sẽ tập viết bằng tay trái vậy. Dù sao em cũng an ủi lấy mình vì em còn có phước hơn nhiều người. Thằng Rô-be ngoắc em. Hổng thèm buồn nữa, em phải chạy đi chơi với tụi nó chứ! Em giơ bàn tay mang băng trắng lên khỏi đầu chạy đến bám lên cửa xe cười vang. 

Mặt trời lên cao, ngay đỉnh đầu. Chắc giữa trưa rồi! Ở đây không còn biết ngày giờ là gì, chỉ đoán chừng thôi. Lũ trẻ vẫn không ngừng dang nắng. Khi nào chơi chán rồi, lưng ướt đẫm mồ hôi, các em cùng chạy đến đứng nối đuôi nhau bên xe nước, đợi chờ. 


NHỮNG GIỌT MỒ HÔI 

Trên ba mươi gia đình trú ngụ trong mỗi trại. Mỗi gia đình sinh sống tạm thời trên một manh chiếu. Trong số đó, có nhiều gia đình đã thất lạc con cái cha mẹ, chỉ còn đôi ba người trơ trọi. Tiếng trẻ khóc như quyện lấy hơi nóng từ trên trần nhà tỏa xuống. Và những khuôn mặt khắc khổ chịu đựng cố tươi tỉnh nhìn phần quà của mình vừa mới nhận lãnh để mà đè nén những ưu tư. Em lặng nhìn họ, và muốn nói với họ những lời khâm phục nhất. 

Chúng tôi là những người đi học, đã gác bỏ bài vở để đến đây chia sẻ với đồng bào. Vậy xin bà con thông cảm chúng tôi, vui lòng giúp đỡ chúng tôi dễ dàng trong công việc. Xin bà con sắp hàng ngay ngắn và đưa phiếu cho chúng tôi để nhận phần quà. Những người tị nạn đã lớn, đã già, nhưng có nụ cười ngoan ngoãn như trẻ thơ, đứng sắp hàng chờ đợi. Họ nhìn chúng em bằng tia nhìn cảm thông trìu mến. Em muốn nói với họ rằng chính chúng em phải cảm ơn họ, vì họ là những người nhận lãnh đau khổ khốn đốn thay cho những kẻ thị thành. 

Trại “ba đê” ra lãnh phần! Vài tia mắt ngơ ngác. A, không, trại “ba dê” ra lãnh phần! Lũ trẻ thơ mình đen bóng chạy ù ra, mấy người lớn chạy lúp xúp theo sau. Một hàng rào giăng ra bằng những cánh tay nối lại. Bà con xin chờ đợi sắp xếp phần đầy đủ. Phiếu ai có ghi “sữa” thì lãnh thêm sữa, ai có ghi “xô” thì lãnh thêm cái xô. Hai người đàn bà nhìn nhau cười. Tui kêu là cái thùng xách nước, họ kêu là cái xô làm tui bắt chước kêu theo. Chúng em ôm sẵn quà trao cho từng người. Xin bác nhận lấy, một bịch gạo, một bịch quần áo, một gói muối, một chai xì dầu, một cái ca uống nước, một gói mì khô. Xin bác lãnh thêm hộp sữa cho em bé. Nhà chị đông, xin lãnh thêm cái xô… Một chị than phiền: “Mấy ông cho tui xin cái xô, tui xách nước. Tui có con dại, cho xin hộp sữa. Hồi nãy ghi phiếu tui đi vắng, mấy đứa con tui khai bậy làm bây giờ hổng có được thêm. Làm ơn cho tui xin…” Nhiều người bắt chước nhau khiếu nại. Xin bà con hiểu giùm. Chúng tôi làm việc với thiện chí, và mong giữ trật tự đến mức tối đa. Những giọt mồ hôi lăn đầy trên mặt anh xướng ngôn. Những giọt mồ hôi lấm tấm trên lưng áo những người phát quà. Những giọt mồ hôi nhễ nhại trên mình những người tị nạn. Quá giữa trưa rồi, nắng vẫn không giảm sự gay gắt, trái lại còn hực nóng thêm. Em nghe bỏng rát cả hai cánh tay và tưởng như chiếc nón lá trên đầu trở nên rất dòn đến nỗi sắp bể… Giờ này có người chưa nấu cơm ăn vì còn đợi phát gạo. Vậy chúng ta hãy phát mau cho họ. Anh xướng ngôn mệt phờ người vì đọc to nãy giờ, thế mà vẫn trợn mắt vừa nói vừa hát: “Sao anh làm mà không vui cười? Sao anh làm mà không vui cười?” Cả bọn như bị thúc đẩy, cùng vỗ tay hát hò khiến những người tị nạn cũng thấy vui theo. Em cảm thấy như nắng bỗng chạy trốn ở cuối chân trời. 

Một người đàn ông từ trong trại tạm trú đi ra, mặc một chiếc áo dài đỏ. Lũ trẻ ôm bụng cười như nắc nẻ. Hai người đàn bà nhìn nhau cười. Ổng điên hả? Không, ổng giỡn đó! Tại ổng nhận được bao quần áo có cái áo dài đó mà! Thiệt, khổ tới đó mà còn giỡn. Buồn cười nhỉ! Mà cười ra nước mắt đó bà! 


MẸ VẪN ĐỢI CHỜ 

Bác đứng ở dưới mái hiên rất lâu, đôi mắt thẫn thờ. Mời bác uống với cháu miếng nước. – Không, cảm ơn cô, tui không quen uống nước đá. – Trưa nắng quá bác đứng đây làm chi hở bác? – Tui đứng đây đợi người quen coi có ai lên không. Cực lắm cô ơi! Tui chạy từ trên nớ về đây với mấy đứa nhỏ. Nhà tui còn ôn mệ nhưng ôn mệ không chịu chạy, rứa là mắc kẹt lại rồi. Con tui à? Mấy đứa nhỏ thì bình yên ở đây, nhưng còn ba thằng con trai lớn, một thằng đi lính xa, hai thằng đi lính ở địa phương. Mẹ hắn chạy đi mà hắn thì ở lại đánh. Rứa là không biết tụi hắn sống chết ra răng rồi mấy cô ơi! – Nước mắt bác chảy dài lăn xuống đôi môi, thấm vào những lằn nứt khô héo. – Bác, bác đừng khóc, bác hãy hy vọng lên đi bác. Nhà ai cũng có người đi lính hết. Thời chiến tranh là phải như rứa mà bác. Bác hãy hy vọng lên, rồi một mai yên lành bác sẽ gặp con. Không sao đâu bác! – Cô nghĩ coi, con mình lúc nhỏ mình tưng tiu từng chút, lớn lên hắn đi xa cha xa mẹ, cực khổ trăm điều, thử hỏi ai mà không lo. Bây chừ tụi hắn mắc kẹt trong nớ rồi, tui thiệt ngồi đứng không yên, ra đứng đây để nghe loa coi họ có nhắn tin cho mình không. – Bác ăn cơm chưa bác? – Rồi cô. Nhưng mà tui có ăn được chén mô ra hồn đâu, toàn nhường cho tụi nhỏ ăn hết. Tụi con tui nó đói quá, ăn không đủ. Cô nghĩ coi – bác lại sụt sùi – một bịch gạo đong ra không đầy hai lon mần răng nấu đủ ăn một ngày, mà lại không có thức ăn nên phải đói. Phải chi bữa chạy loạn tui có đem được ít tiền thì ra chợ mua gì về ăn cũng đỡ, đàng ni chỉ chạy mấy mẹ con với mấy bộ quần áo. Cô biết không, ăn cơm mà thèm một cọng rau, thèm một cái xương cá vô cùng. Đã vậy muốn xin thêm mấy ổng một lon gạo cũng không được vì chen lấn quá đi. 

Nét đau khổ hằn sâu thêm trên gương mặt của bác. Quá nửa đời người rồi còn chi, nhưng hầu như bác chưa thấy ấm êm. Con người phong trần này có lẽ đã chạy loạn trong đời không biết bao nhiêu lần để tìm bình yên. Gia sản chắc cũng đã nhiều lần bị bỏ đi và nhiều lần gây dựng lại. Em không biết rồi đây bác còn phải chạy loạn bao nhiêu lần nữa. 

Vào trụ sở xin một bịch gạo, chúng em muốn góp phần nhỏ bé vào bữa cơm chiều nay của bác. Bác sẽ chẳng phải nhịn đói nữa, vì nồi cơm chiều nhiều gấp đôi mọi lần mà! Đôi mắt bác sáng long lanh nước mắt. Cám ơn các cô quá, tui chẳng biết chi để cám ơn các cô. – Không đâu bác, nếu chẳng có gì cho nhau, thì chúng cháu chỉ có tấm lòng này, xin bác nhận cho và chúc bác nhiều hy vọng. 

Bác ôm gói gạo trong tay, đi nhanh về trại. Ngang qua phòng nhắn tin, bác dừng lại trước máy phóng thanh. Đôi mắt chùng xuống buồn thiu. Tiếng nói vang ra từ chiếc loa phóng thanh như xuyên vào tai bác. Nhắn tin, nhắn tin, em Trần Thị V., có anh là Đại úy Trần văn D. muốn biết em đã về trại tạm cư chưa…. Nhắn tin, nhắn tin, bà Nguyễn Thị T., có chồng là ông Vũ văn C. muốn gặp, xin bà ra phòng nhắn tin… Trời ơi! Còn con của bác, tụi hắn có được bình yên không, răng chẳng đến tìm bác? Mạ lại đứng ở chỗ ni chờ hoài chờ mãi vậy. Con còn sống hay không? Răng chẳng về tìm mạ??? 


THƯƠNG QUÁ, HƯƠNG CAU 

Ngày sẽ tới nước non thôi là hai
Ngày thống nhất Bắc Nam đi lại rồi;
Anh đưa em ra nghe thu Hà nội
Em đưa anh vô Nam coi mặt trời.
Này hỡi, hỡi hòa bình! Này hỡi, hỡi hòa bình!

... Lũ trẻ thơ dạt ra hai bên cho xe chạy. Nắng bây giờ hết gay gắt, nhưng vẫn còn sáng loáng trên những tấm lưng trần. Tiếng hát bé bỏng xa dần. Em bây giờ lại trở về thành thị để tiếp tục bài vở, thi cử. Tự nhiên thấy quyến luyến đám trẻ nhỏ và những người tị nạn hiền lành, chịu đựng. Tự nhiên thấy không muốn xa những dãy trại tạm cư nóng hầm, những con đường đất nứt nẻ hực hơi nắng. Bây giờ lại thấy những cảnh vật ban sáng. A, nhưng mà hình như có mùi gì thơm nhẹ trong gió. Mùi hương cau! Em muốn reo lên và muốn chạy xuống để đi tìm vườn cau nào thơm quá! Lúc này những ước mơ như đang lớn lên trong lòng em thật mãnh liệt. Ôi thương quá đất nước em đẹp đẽ hiền lành thế này đây, sao không mấy ai thương yêu ngọn cau, tàu chuối? Sao không mấy ai vun bồi luống đất, bờ đê? 

Lại đi ngang cây cầu hồi sáng. Em nghe tiếng ván kêu lộp cộp dưới bánh xe như chào hỏi. Người lính đứng trên cầu quay lại nhìn chiếc xe bằng ánh mắt cũ, rồi nhìn xuống dòng sông. Lại một ngày như bao ngày anh đứng gác trên cây cầu buồn thiu. Anh ơi, hy vọng lên nhé! Rồi sẽ có một ngày anh không phải gác một mình trên cầu nữa. Anh sẽ được về nhà sống với cha mẹ, vợ con. Em bỗng nhiên tưởng tượng một ngày sẽ tới, đường quê tấp nập người người trở về mái nhà cũ, gầy dựng lại cơ nghiệp. Sẽ không còn những trại tạm cư. Sẽ không còn những cuộn kẽm gai chắn đường cây trái mọc. Bác gì đó sẽ gặp lại con trai. Rô-be được mặc áo, hết đen như xì dầu. Em bé cụt hai ngón tay sẽ trở thành họa sĩ với bàn tay trái vẽ vời quê hương, hay sẽ trở thành một nhà bác học. Những người vợ chung thủy sẽ dìu nạng cho người chồng thương binh đến trường tiếp tục việc học dở dang. Ôi thương quá, ngày thanh bình trên quê hương em, chắc sẽ vui vô cùng!.. 


Ghi từ Bình Dương – Sàigòn     
10-5-1972                   
CAM LI  NGUYỄN THỊ MỸ THANH


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 179, ra ngày 15-6-1972)

Bìa của Vi Vi : Còn có ai!

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

Vườn Hoang


Tiếng súng giao tranh chỉ còn nghe lẻ tẻ và dư âm vang xa xa ở trong sâu, sâu lắm... vùng quê nghèo tiêu điều. Người ta đã tản cư từ lâu, để lại đất đai, ruộng đồng, vườn hoang, nhà trống...

Khu vườn xum xuê hoa quả ở sát mặt đường lộ này cũng trở nên buồn bã mất thôi. Dì gió lắm chuyện bỗng đổi tính mơ mộng, dì gió cứ nhớ về ngày xưa an bình, rộn rịp nhịp sống vui hòa. Mấy bụi chuối xiêm hai bên hè nhà cứ ru con với những tàu lá xào xạc làm quạt. Chúng không cần đến dì gió. Nhưng mấy bụi chuối con thì lim dim khi dì gió nhẹ lướt qua vuốt ve tay của mấy bụi chuối con. Gần hàng rào hoa bụp là những bà mai già. Các bà hãy còn ngủ, có lẽ mùa xuân các bà sẽ dậy và trang điểm bằng những hoa vàng năm cánh hay bảy cánh rực rỡ. Dì gió đến gọi các bà mai già dậy đi nào. Dậy mà kể chuyện khào với nhau cho thay đổi cái không khí đìu hiu này. Các bà mai già cành lá khẳng khiu vẫn thản nhiên. Nhưng bụi tre độc nhất ở gần cổng ra vào bằng cây, đồng ý trước tiên. Dì gió chạy lăng xăng thuyết phục mọi người làm quen với nhau, cùng lên tiếng, cùng cởi mở... trong chuỗi ngày buồn, trong thời gian dài chờ đợi... (Họ chờ đợi gì đây?) Mấy chục cây mận gọi nhau rối cả lên. Hàng dừa xiêm ngơ ngẩn vì cao quá, các anh này chưa rõ chuyện. Phải đợi dì gió thét tận tai ông lão cây si râu ria tua tủa và thòng gần tới đất, mấy cây dừa mới biết được. Mấy cây dừa nói cho một chục cây cau nghe cùng. Mấy cây cau nói cho mấy dây trầu hay. Nhưng mấy dây trầu mắc bận gây gổ với mấy dây tiêu. Mấy dây tiêu lúc đầu bò lộn qua mấy cây cau, bị mấy dây trầu phản đối và cứ đem chuyện đó mà mắng mấy dây tiêu mãi. Mấy dây tiêu tức mình bò sang giàn bằng cây tràm, yên chỗ rồi tụi này cứ chửi qua, chửi lại với nhau.

Chả là vì mấy dây trầu ganh ghét mấy dây tiêu có hạt còn dây trầu thì không có. Mấy dây trầu cũng ghét dây khoai miền dưới nữa, mặc dù dây khoai này bò một mình quanh cây xoài voi khá cao, cao hơn cả ông lão cây si.

Hoa lá, vạn vật trong vườn nhao nhao hỏi ý định của dì gió khi tập hợp mọi người. Dì gió đáp:

- Chúng ta mỗi người sẽ kể một câu chuyện vui hay buồn, dài ngắn tùy ý... Để xem chuyện nào hay nhất. Ít ra cũng qua được khoảng thời gian tẻ lạnh, vắng ngắt này...

- Đồng ý, đồng ý...

Chỉ có mình ông lão cây si là từ chối:

- Thôi, lão già rồi, cho lão xin, lão nghe mấy cháu kể cũng được rồi, mà mấy cháu phải kể chuyện gì vui vui đó nghe...

Dây khoai miền dưới không bằng lòng, nó lên tiếng:

- Ông làm bộ hoài, ông sống lâu năm rồi, có lẽ biết nhiều chuyện hay lắm. À, ông bao nhiêu tuổi rồi hả ông?

- Bao nhiêu tuổi hả? Lão không nhớ bao nhiêu lâu, nhưng chắc chắn lão đứng đây từ hồi chưa có căn nhà ba gian kia.

Rồi ông lão cây si quay qua hỏi căn nhà:

- Phải không chú em? Lão sống ở đây thuở còn trai tráng chưa có râu để bọn dơi đánh đu ban đêm.

Nhưng căn nhà vẫn im lặng trong khi vạn vật reo cười vì câu pha trò.

Bây giờ đến phiên dì gió chỉ huy, dì gió chỉ bụi tre:

- Chàng bụi tre kể chuyện mình trước nhé.

Chàng bụi tre ngượng nghịu:

- Tôi không có chuyện gì để kể, nhưng tôi biết hát.

Vạn vật trong vườn hoang đều tỏ vẻ đồng ý lẫn ngạc nhiên. Rồi chàng bụi tre mơ màng hát những bài ca dao mộc mạc nhưng ươm đầy mật ngọt quê hương, làm say sưa hoa lá cỏ cây trong vườn hoang. Dì gió chép miệng:

- Phải chi có tiếng sáo diều phụ họa thì hay biết mấy.

Trẻ con cũng đi xa tận đâu rồi khiến buổi chiều cũng trở nên buồn.

Chàng bụi tre hát nhiều bài, thật lôi cuốn đến nỗi khi dứt ngang làm vạn vật bàng hoàng trong giấc mơ tuyệt vời. Thì bỗng có tiếng hát xa xăm nối tiếp, tiếng hát của bà chuối hột cạnh ngôi mộ cũ, cuối khu vườn hoang. Mấy bụi chuối xiêm thích thú nhất, chúng không ngờ bà chuối hột lại thuộc nhiều bài hát "ầu ơ, ví dầu" để ru con như vậy. Mấy chú chuối xiêm định sẽ nhờ bà chuối hột dạy hát cho. Để khi chủ nhà trở về chúng sẽ trổ tài, át hẳn tiếng võng đưa "kẽo cà, kẽo kẹt". Dì gió nhẹ lay gọi mấy bà mai già. Mấy bà mai già ngái ngủ càu nhàu: "Vô duyên, lộn xộn... để người ta ngủ". Bác mặt trời đang chói chang cũng phải híp mắt cười, và hình như ông lão si già cười rung rung hàm râu rễ phụ. Đến phiên cây chùm ruột kể chuyện:

- Tôi ấy à, tôi sinh ra chẳng biết để làm gì. Ngoài có trái chua để người ta ăn, làm mứt...

Vạn vật xì xào:

- Chuyện của anh chùm ruột chán phèo. Dẹp đi.

Cây chùm ruột xấu hổ, và lá chùm ruột vài cái đang rơi.

Mấy cây mận thì láo khoét, chúng nói rằng:

- Quê tụi tôi ở tận Vân Nam...

Và ôi thôi một lô chuyện dóc bên Tàu.

Đợi mấy cây mận dứt lời, ông lão cây si bèn lật tẩy:

- Lão biết hết, tụi bây là loại cây chiết cành mà. Người ta bó đất vào chân tụi bây, đợi mọc rễ mới chặt đi và đem trồng nữa. Tụi bây ở vườn ương cây nào đó, chớ nào phải ở Vân Nam.

Cỏ cây ồn ào "châm chọc" mấy anh mận nói khoác. Chỉ có hai cây mận Hồng Đào gây giống tận Vân Nam là hãnh diện. Hai cây mận này sản xuất trong mùa những quả thật bóng, vân đỏ, quả to, hột ít và lại ngọt nữa. Vạn vật đều biết thế, vạn vật cười chê nhìn mấy cây mận kia đang bẽn lẽn vì "thấy người sang bắt quàng làm họ".

Thế là bắt qua chuyện phiêu lưu. Mấy dây tiêu kể chuyện mình lưu lạc tận miền Trung vô đây. Hoa lá, cỏ cây ngùi ngùi thương cảm cho quãng đời đắng cay cơ cực của dây tiêu.

Mấy dây tiêu cứ gặp rắc rối hoài với mấy dây trầu. Nhưng mấy dây trầu quạu quọ khó mà có cảm tình với vạn vật trong khu vườn hoang. Hai chậu dây trầu bà treo lủng lẳng ở máng xối trước hiên nhà cũng xa lánh mấy dây trầu bò quanh mấy cây cau. Hai dây trầu bà có vô số bạn bè. Nào là dây hoa chùm gửi. Mấy dây chùm gửi yếu đuối bò lông ngông quanh ông lão cây si, quanh cây xoài voi, hay quanh vách ván căn nhà, chen cả vào giàn mướp. Các loại dây leo làm bạn với nhau và chừa mấy dây trầu kiêu hãnh ra. Mấy dây trầu và một chục cây cau kể "chuyện tích Trầu Cau" hay lắm, nhưng không hấp dẫn được mọi người. Mấy dây trầu và mấy cây cau mắc tật "nói về cái tôi" nhiều quá, nhiều đến nỗi vạn vật đều ghét sự ích lợi của trầu cau.

Trầu cau biết đâu rằng, nếu không nhờ tục lệ cổ truyền khi cưới hỏi, trầu và cau thành vô dụng mà thôi.

Rồi dây hoa chùm gửi và hai dây trầu bà kể những mẩu chuyện vui trên đường lang thang. Dây hoa chùm gửi và hai dây trầu bà kết luận:

Dầu sao chúng tôi vẫn thích sống cuộc đời êm ả ở đây lắm...

Dì gió lúc nào cũng len lỏi mọi nơi ngắt lời:

- Ừ nhưng phải vui sống, không nên bi quan.

Hoa chùm gửi với trầu bà ngẫm nghĩ và buồn riêng cho phận chúng. Vì chúng ngoài cái vẻ làm duyên tạm, trang trí cho khu vườn hoang, chúng không còn phận sự và ích lợi gì cho loài người như trầu và tiêu. Chúng còn kém cả giàn mướp và dây khoai miền dưới. Chúng biết phận nên chỉ đành chơi với mấy khóm hoa. Quanh căn nhà có nhiều hoa lắm cơ. Trước cửa gian nhà chính có hai bụi hoa hướng dương, bảy hay tám bụi hoa mười giờ và móng tay. Một chậu huỳnh hoa cũng đang ngủ như mấy bà mai già. Các loài hoa có khối chuyện về điểm trang nhưng còn làm bộ vì chưa đến mùa xuân đấy thôi.

Dì gió rì rào và nhắc nhở mấy hàng dừa xiêm cao giò. Mấy hàng dừa xiêm cũng kể chuyện lưu lạc tận phương xa, nuối tiếc ngày ấy đã qua rồi. Bây giờ hàng dừa xiêm chỉ nói chuyện khi loài người sử dụng quả dừa. Nào ăn cái, uống nước, làm dầu, làm dây, làm chổi, làm bàn chải, lợp nhà, làm nón, chụm củi, chụm mủng vùa, làm phân tro v.v... Thật là nhiều công dụng thiết thực. Hoa lá... vạn vật... thích lắm.

- Ồ, hết rồi sao? Kể nữa đi. Kể chuyện phiêu lưu ngày xưa đó.

Dì gió vui vẻ can thiệp:

- Muốn nghe chuyện phiêu lưu, thì sẵn đây có dây khoai miền dưới.

Dây khoai miền dưới đến phiên, chậm rãi kể:

- Xứ sở tôi ở tận Đà Lạt. Không, bên Âu Châu mới đúng. Tên thật của tôi là khoai tây. Có dạo tôi được đi du lịch bên nước Tàu. Khí hậu nơi đó cũng dễ sống, hơn cả Đà Lạt. Tôi có thể sống thích nghi dưới lòng đất hay bò ngoằn ngoèo theo mấy thân cây hay các giàn chống. Từ miền Trung tôi theo bước chân buôn bán của người ta về miền Nam. Tôi cũng thử sống còn với đất đai và khí hậu nóng này. Từ đó tôi có tên mới là khoai miền dưới. Người ta ăn củ của tôi cũng khen ngon...


Hoa lá cỏ cây trầm trồ nhìn các củ khoai miền dưới mỏng vỏ mà dai, cái màu lai giữa màu xanh lá cây và màu đất.

Chẳng trách một tốp người chạy loạn ngang qua khu vườn hoang đã hái vội những củ khoai, chặt vội quày chuối sống hay mấy bắp chuối còn tươm mủ. Trầu, cau và tiêu... không cần thiết lúc ấy. Giá có thì giờ họ sẽ xắn mấy mụt măng, bẻ mấy quày dừa xiêm trên cao. Xoài và mận nhốn nháo, may quá chúng chưa có quả. Nếu không, vì đói người chạy loạn dám vặt cả quả xanh. Tốp người chạy loạn kéo ngang qua mang bao nỗi kinh hoàng như lúc dì gió nổi giận. Ông lão cây si bàng hoàng, ông nhìn lại mấy vết sẹo của đạn súng vô tình làm trầy cái thân cây sù sì. Từ đó ông lão như người điếc không muốn nghe tiếng sầu của chiến tranh. Bởi vậy khu vườn hoang vắng, hoa lá tiêu sơ không người chăm sóc, chúng âm thầm sống lây lất chờ bàn tay người về trùng tu.

Dây khoai miền dưới kể đã xong. Đến giàn mướp bò trên chái nhà lá. Giàn mướp bấy lâu nay bò rậm rạp quanh giàn cây tràm, nay bò lên cả chái nhà lá. Lá dừa khô lợp chái đã mục, đã cũ quá rồi, mà chưa có người thay.

Giàn mướp rung rinh mấy cái hoa màu vàng. Giàn mướp định "đánh trống lảng". Giàn mướp quá lười không muốn kể chuyện như cây xoài voi, và hàng rào hoa bụp cũng chưa nói gì, vạn vật quên chúng, vì chúng ở xa quá. Giàn mướp tò mò nhìn qua kẽ lá rách. Bác mặt trời hí hửng rọi vài tia nắng theo sau, qua khe vách ván hở. Giàn mướp thốt bâng quơ:

- Căn nhà ơi, sao ở trong ấy, bàn, ghế, tủ, đồ đạc... đầy dẫy bụi bặm thế này. Đó, dì gió thổi làm chi mà bụi nhảy múa kìa.

Căn nhà biết trả lời sao khi chủ nhân chưa về mở tung các cửa, quét dọn khắp cùng.

Ông lão cây si bỗng vui mừng reo lên:

- Ô kìa! Đôi chim bồ câu  cánh trắng. Không, cánh nâu đã bay về đậu trên cây xoài voi. Các cháu nhìn xem, hòa bình sắp về.

Dây khoai miền dưới sung sướng:

- Nghĩa là người ta sẽ trở về săn sóc, tưới cây, trồng tỉa. Chúng ta sẽ góp đời sống ích lợi với đời.

Nhưng ông lão cây si mắt kém đã lầm, chỉ có cây xoài voi rõ chuyện, nhưng cây xoài voi không nỡ đánh vỡ hy vọng của hoa lá cỏ cây trong khu vườn hoang. Đó chỉ là đôi chim trao trảo mỏi cánh dừng chân. Đôi chim ấy cũng đang đi tìm chốn yên lành nương náu. Cây xoài voi hoài im lặng, giữ bí mật cho đến lúc đôi chim trao trảo bay đi.

Mấy loài hoa hướng dương, móng tay, chùm gửi... hoan hỉ mong ngày người ta về tưới nước, tắm táp cho chúng. Dừa và cau xào xạc chuyện trò với mận với chùm ruột. Chúng thèm sự hoạt động tràn về phá vỡ cái vẻ lặng trang này. Mấy dây trầu và mấy dây tiêu, trầu bà, dây mướp... và các loại cỏ dại vô trật tự cũng đã quên đi giận hờn, làm lành với nhau. Tre và chuối hòa ca... và hình như ông lão cây si đang lắng nghe dì gió lắm chuyện mới bắt đầu kể bao chuyến phiêu lưu. Bác mặt trời đã đi ngủ, nhưng mấy bà mai già vẫn chưa đã giấc, cả chậu huỳnh hoa nữa...

Dì gió không kể chuyện phiêu lưu trong vùng lửa đạn. Dì gió kể chuyện thần tiên. Hoa lá, cỏ cây... đang thì thào góp tiếng trong bóng đêm. Kẻo mai này chủ nhà trở về, khu vườn thôi hoang vắng, lúc ấy thế giới thực vật sẽ thầm thì mơ hồ xa xăm trong không gian huyền bí. Dì gió mãi kể chuyện đều đều, và chưa có câu chuyện nào được chọn là câu chuyện hay nhất. Nhưng không một loại cỏ cây hoa lá nào chú ý đến muôn thứ côn trùng đang hòa ca bản nhạc triền miên trong niềm mơ ước tìm lại ngày xưa... Ôi! Ngày xưa thanh bình.


PHAN KHƯƠNG THÁI     


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 87, ra ngày 29-4-1973)

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Giải Đáp














nếu ai chỉ lên bản đồ thế giới
hỏi em rằng nước em ở nơi đâu
em hãy đáp nước tôi hình chữ S
nằm trên miền Đông Nam Á từ lâu

nếu ai hỏi nước em giàu không nhỉ
em trả lời cây cỏ đấy người xem
đất khô cằn bao nhiêu năm thừa thãi
vì quê hương đang tang tóc trăm miền

nếu ai hỏi dân em làm gì sống
em trả lời cày ruộng với trồng khoai
tuy vất vả nhưng bốn mùa no ấm
không tranh giành không gây hấn cùng ai

nếu ai hỏi nước em cần gì nữa
em trả lời chỉ cần có tình thương
mẹ Việt Nam tủi hờn môi lệ ứa
khóc đàn con gây chinh chiến đau buồn

nếu ai hỏi em có gì hãnh diện
về quê hương và xứ sở của em
em hãy đáp bằng trọn niềm yêu mến
đây chúng tôi còn có một trái tim!

                                       Ngọc Thùy Giang
                                                  (hoa rừng)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 88, ra ngày 1-4-1968)

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2018

Bồ Câu


Tượng trưng cho tính hiếu hòa 
và là biểu hiệu của Hòa Bình. 
Nhưng Bồ Câu còn được loài người 
lợi dụng để phục vụ cho... chiến tranh, 
bởi một khả năng kỳ diệu hiếm có...

Bồ Câu, chim Hòa Bình.

Theo Kinh Thánh (Cựu Ước) thì đời thái cổ, khi loài người đã sinh sản đông đúc trên mặt đất và cuộc sống bắt đầu chìm trong tội lỗi, sa đọa, Thiên Chúa liền trừng phạt bằng một trận đại hồng thủy (cơn lụt lớn) tiêu diệt hết. Duy chỉ có ông Noé và gia quyến, nhờ sống đạo đức ngay thẳng và hiền lành nên được Thiên Chúa báo trước cho biết. Noé liền đóng một chiếc tàu lớn, đem gia quyến và súc vật, mỗi loài một con trống và một con mái, lên ở. Khi nạn đại hồng thủy đã qua, trên mặt tàu của gia quyến ông Noé tấp vào ngọn núi Ararat. Ở trong tàu, Noé nóng lòng không biết trận đại hồng thủy đã thực sự qua khỏi chưa liền thả một con chim quạ và một con chim bồ câu cho bay đi thăm dò. Đến chiều, chim quạ biệt tăm, chỉ có con chim bồ câu hớn hở bay về, miệng ngậm một cành ô-liu xanh tươi. Nhờ thế Noé biết đại nạn đã qua, cây cối đâm chồi nẩy lá xanh tươi như trước.


Do điển tích trên mà chim bồ câu đã được dùng làm biểu tượng cho sự hòa giải và Hòa Bình, và được gọi là Chim Hòa Bình.


Sứ giả đưa tin.

Có lẽ do điển tích trên: chim Bồ câu được ông Noé phái đi lượm tin ; nên từ thời cổ người ta đã biết dùng chim câu vào việc thông tin, vì chim bồ câu bay được xa và có tài nhớ đường lối, phương hướng, chỗ ở cũ của mình.

Thời Trung cổ, người ta buộc vào chân chim một sợi dây, màu gì đó để làm hiệu với nhau. Có người gấp lá thư buộc dưới cánh chim hoặc cho thư vào một cái ống thật nhỏ, nhẹ, đeo lòng thòng nơi cổ chim câu. Trong cuộc chiến tranh Đức Pháp 1807-1871, người ta viết những thư tín vào các mảnh giấy rất mỏng, đem cuộn lại, nhét vào trong một ống lông chim rồi buộc chặt chúng vào lông đuôi chim. Cho đến ngày nay, chim câu vẫn còn được dùng vào việc thông tin thư tín.


Vì thế ngoài hình vẽ chim bồ câu ngậm cành ô-liu còn có hình vẽ chim bồ câu ngậm phong thư.

Người ta tự hỏi: tại sao bồ câu phân biệt được phương hướng và nhớ được nơi xuất phát? Thuyết bảo nhờ tại bồ câu có những dây thần kinh đặc biệt mà biết được phương hướng ; thuyết lại cho rằng nó nhờ có cặp mắt có những tính chất đặc biệt nên phân định được phương hướng và những nơi bay qua.

Người ta đã thí nghiệm bằng cách nhốt một con chim bồ câu trong toa xe lửa đóng kín cửa, đem đi xa chỗ ở của chim khoảng sáu, bảy trăm cây số rồi thả ra. Chim câu đó cũng tìm về được chỗ cũ. Như vậy chúng ta hẳn đã thấy thuyết nào đúng hơn (?)


Chim Bồ Câu phục vụ chiến tranh.

Lạ nhỉ! Là một giống chim hiền lành và được dùng làm biểu hiệu cho hòa bình, sao lại phục vụ cho chiến tranh? Nhưng thật thế bạn ạ! Phục vụ thật đắc lực nữa là khác!

Năm 1914 thời Đệ nhất thế chiến được biết quân Đức dùng chó để thông tin và tại Bỉ có 6.000 con chó dùng vào các công tác gián điệp, Bộ tham mưu Pháp nghĩ cách dùng chim bồ câu để làm đội quân phản gián. Kết quả đội quân bồ câu của Pháp đã thắng oanh liệt đội quân khuyển của Đức. Chim bồ câu Pháp mạo hiểm hơi ngạt, tạc đạn, súng liên thanh đã lập nên nhiều công trạng. Có con trong một tiếng đồng hồ đưa được thư bí mật từ thành Reims đến Béthencourt cách nhau 80 cây số. Năm 1916, một đội quân Pháp bị thiếu nước đến nỗi phải dùng cả nước tiểu. Sau nhờ một con bồ câu thông tin xin tiếp tế nước, đội quân được giải ngay. Năm 1918, bộ tổng tư lệnh Pháp nhờ được chim bồ câu báo cáo quân Đức đã núng thế, nên đã thu hết đảm lực phản công lại và giải phóng được thành Bizonveaux.

Sau ngày 11 tháng 11-1918, Thế chiến thứ I chấm dứt, số bồ câu đã bỏ mình vì nghĩa vụ thật nhiều: trong 24.300 con thì mất hết 7.462 con.

Thấy ích lợi vô cùng của chim bồ câu trong thế chiến thứ I, nên đến thời thế chiến thứ II, Bộ tổng tham mưu Quân đội Pháp đã huy động tới 100.000 chim bồ câu để dùng vào việc quân.

Quân Anh cũng tuyển hàng sư đoàn bồ câu, cắm tại giữa kinh thành Luân Đôn do hai Thiếu tá W.H.OSMAN và J.B.VERNON chỉ huy. Trong số này có 35.000 con dùng vào việc thông tin, còn bao nhiều đều dùng vào công tác gián điệp.

Không những chỉ có phe Đồng Minh sử dụng chim bồ câu, mà lần này, quân Đức cũng dùng chim câu để giúp việc quân và họ đã huấn luyện thật thuần thục một đoàn quân chim phản gián. Và, một cuộc chiến tranh gián điệp giữa chim bồ câu của hai phe đã diễn ra...

Mang danh chim hòa bình nhưng bồ câu lại đã giúp ích thật đắc lực cho con người trong chiến tranh. Khả năng của chim không chỉ là thông tin, làm gián điệp, Bồ câu còn được quân Đức sử dụng vào việc chụp hình các căn cứ quân sự trọng yếu của địch. Họ đeo ở trước ngực con chim một máy ảnh rất nhẹ và nhỏ ; có máy bấm tự động và máy cuốn phim tự động. Trong máy ảnh, được để sẵn tới ba mươi cuốn phim nhựa rất nhỏ.

Khi muốn chụp một nơi ở cách chỗ thả chim độ 20 cây số, người ta canh máy cho chậm lại 20 phút sau mới chụp (Tính mỗi phút chim bay được 1 cây số) từ đó, máy ảnh tiếp tục tự động chụp cách đều tùy thời gian đã được người ta canh sẵn.

Dùng bồ câu làm những việc này rất tiện lợi, vì chim bay thấp, chụp được rõ và cũng ít bị phát giác. Phần nhiều, quân Đức dùng chim bồ câu thay thế phi cơ trinh sát để chụp các kết quả sau cuộc ném bom của các oanh tạc cơ. Phi cơ trinh sát không bay thấp được và dễ bị bắn rớt.


Cách bay và tốc độ của chim Bồ Câu.

Khi được thả ra, chim bồ câu bay vòng tròn theo hình trôn ốc, mỗi lúc một cao hơn, cho đến một độ cao tiện lợi chim mới bay thẳng một mạch về chuồng hoặc tới đích đã định. Nếu thả chim từ phi cơ ở trên cao thì chim bay xuống theo hình tròn và cũng đến cái độ tiện lợi mới bay thẳng theo hình thang. Cái độ cao tiện lợi ấy thay đổi tùy theo thời tiết. Trời quang đãng thì chim bay cao cách mặt đất 200 hoặc 300 thước ; trời u ám thì chừng 150 thước và nếu có gió lạnh thì chim bay cao chỉ chừng 100 thước.

Về tốc độ, chim bồ câu bay được từ 100 đến 120 cây số một giờ nếu trời tốt. Bay đường trường hoặc trời xấu, chim câu chỉ bay được từ 70 đến 90 cây số là nhiều.

Những chim câu được nuôi dưỡng cho ăn theo phương pháp đặc biệt và được huấn luyện thuần thục thì khi đem bay thi, có thể bay được trên những quãng đường dài từ 1000 đến 1800 cây số.


Chim bồ câu với đôi mắt đẹp, trong sáng, với dáng điệu hiền lành trong bộ áo trắng tinh hoặc có điểm hoa màu, trông mỹ miều như một cô gái đương xuân và nhàn hạ như một ẩn sĩ thanh bạch. Nhưng ở đó, lại ẩn chứa thật nhiều tài năng với những đặc tính lạ lùng trời ban cho. Thế nên chim bồ câu đã được con người tận dụng thật đắc lực, đem lại những kết quả thắng lợi về mọi phương diện cho con người dù trong thời bình hay trong chiến tranh.


QUY ĐÌNH    
(Viết theo Văn Hạc
trong Trung Bắc Chủ Nhật)


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 221, ra ngày 1-4-1974)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>